Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

Pháp Vương Gyalwang Drukpa truyền thông điệp về tình yêu thương

Đức Pháp Vương Phật giáo Kim Cương thừa chỉ ra rằng, tương lai phụ thuộc vào chính hiện tại và hành động của mỗi người. 
Sáng 5/4, hàng trăm phật tử đã có mặt tại Văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội để cung nghinh Đức Pháp Vương Phật giáo Kim Cương thừa Drukpa khi ngài tham gia triển lãm ảnh và toạ đàm với văn sĩ. Dưới tiết trời lất phất mưa bay, chương trình diễn ra trong sự hoan hỉ của tăng đoàn, người dân và nụ cười rạng rỡ của bậc hiện thân Đức Phật Quan Âm. Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội Tô Văn Động; Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam cùng nhiều văn sĩ, nhiếp ảnh gia cũng có mặt.
anh2-9030-1396695716.jpg
Đức Pháp Vương dự khai mạc triển lãm ảnh về Yêu thương trong hành động tại Văn miếu Quốc Tử Giám. Ảnh: Quý Đoàn.

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

10 lời khuyên của Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa

Người đứng đầu Truyền thừa Phật giáo Kim cương thừa Drukpa luôn quan niệm đưa triết lý Phật giáo vào hành động, tìm con đường giải thoát cho những vấn đề mà con người gặp phải ngày nay.
phap-vuong-1-3028-1396584033.jpg
Rất nhiều người có suy nghĩ tiêu cực về tương lai, dự đoán rằng tương lai của mỗi người sẽ ngày càng tệ hơn. Cuộc sống đương nhiên đầy rẫy những khổ nạn, nhưng tôi nguyện tin tưởng một cách lạc quan rằng điều đó sẽ được cải thiện. Chỉ cần chúng ta truyền bá tình yêu và lòng từ bi, thế giới sẽ trở nên tốt hơn.

Pháp Vương Gyalwang Drukpa rạng rỡ đến Việt Nam


Sáng 4/4, Pháp Vương Phật giáo Kim cương thừa Drukpa bắt đầu chuyến thăm Việt Nam lần thứ 5 với nụ cười luôn rạng rỡ trên môi.
d2-1939-1396589633.jpg
Khoảng 9h30 phút sáng 4/4, Đức Pháp Vương Drukpa XII đặt chân xuống sân bay Nội Bài, Hà Nội. Hàng nghìn phật tử xếp hàng ngay ngắn từ cửa sân bay đến cầu thang tầng 2 mong ngóng đón hiện thân của Đức Phật Quan Âm.
d12-6648-1396589633.jpg
Rất nhiều cờ, khăn và bức hình lớn được chuẩn bị trước. “Chúng tôi vô cùng hoan hỉ được đón Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa tới Việt Nam. Sự có mặt của Ngài sẽ đem lại niềm an lành, gia trì, phát triển cho đất nước, nhân dân mình", chị Trần Lệ Oanh, một người dân ở quận Đống Đa, Hà Nội nói.
d6-5018-1396589634.jpg
Pháp Vương đáp lại sự tiếp đón nồng hậu của phật tử Việt Nam dành cho mình. Ngài liên tục cười, ôm vai, trao khăn cho đoàn đón tiếp.
d9-3381-1396589634.jpg
Ngài bắt tay với nhân viên nhà ga sân bay Nội Bài.
d5-8790-1396589634.jpg
Dừng chân tại khu vực tiếp đón của nhà ga Nội Bài, Đức Pháp Vương cho biết Ngài rất mừng khi được trở lại Việt Nam, một đất nước có nhiều nhân duyên với Pháp Vương và Truyền thừa Drukpa.
d14-9758-1396589634.jpg
Trước sự ra đi của cố Đại lão Hòa tượng Thích Trí Tịnh, Pháp Vương gửi lời chia buồn sâu sắc tới Giáo hội Phật giáo Việt Nam và toàn thể phật tử. "Tôi nghĩ rằng sự có mặt của tôi ở đây, với tâm nguyện của mình sẽ hồi hướng cho cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh và cùng phật tử Việt Nam tiếp tục thực hiện thiện hạnh để viên mãn tâm nguyện của Người", Pháp Vương Gyalwang Drukpa nói.
d15-9263-1396589634.jpg
Pháp Vương Phật giáo Kim Cương thừa làm thủ tục tâm linh lên kỷ vật của phật tử. Những kỷ vật này cùng chiếc khăn Ngài quàng lên cổ cho, được xem là những món quà vô giá. 
d16-3918-1396589634.jpg
Chuyến thăm Việt Nam lần này, Đức Pháp Vương sẽ cầu nguyện quốc thái dân an, giúp cho người dân Việt Nam được thịnh vượng, hạnh phúc, an lạc theo những giá trị, tinh thần của đạo Phật. Ngài sẽ thực hiện rất nhiều hoạt động như: quán đỉnh cộng đồng, cầu quốc thái dân an, cầu siêu vong linh, tham gia triển lãm ảnh, toạ đàm cùng các nhà văn về chủ đề "Yêu thương trong hành động" và làm lễ phóng sinh...
Quý Đoàn - Quỳnh Trang
Video: Thanh Tùng

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Cuộc đời truyền kỳ của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa

Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa XII, được tôn sùng là hiện thân của Đức Phật Quan Âm, đã chứng tỏ năng lực tâm linh siêu việt từ nhỏ và khởi xướng nhiều công trình nhân đạo được quốc tế công nhận.
phap-vuong-2-1381-1396064624.jpg
Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa sinh năm 1963 trong một gia đình hành giả Kim cương thừa có dòng dõi tôn quý. Phụ thân Ngài, Đức Kyabje Bairo Rinpoche là một trong những bậc nắm giữ truyền thừa Katok và cũng là hóa thân đời thứ 36 của Đại Thượng sư và Đại dịch giả trứ danh nhất truyền thống Kim cương thừa là Đức Vairotsana. Thân mẫu Ngài là bà Mayum-la Konchok Pema thuộc dòng dõi Thượng sư Nyadak Nyang vĩ đại.
Ngài đản sinh tại thánh địa hồ Liên Hoa, miền bắc Ấn Độ, khi cha mẹ Ngài đang trên đường hành hương. Theo tự truyện của Đức Pháp Vương, hôm đó đúng dịp các đạo sư tập hợp nơi hồ Liên Hoa, tổ chức đại pháp hội Tse Chu. Ảnh: Drukpa.org

Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Pháp Vương Phật giáo Kim cương thừa Drukpa thăm Việt Nam

Người đứng đầu Truyền thừa Phật giáo Kim cương thừa Drukpa thế giới - Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa - sẽ thăm Việt Nam từ ngày 5 đến 21/4 theo thỉnh cầu của Drukpa Việt Nam.
Trong chương trình viếng thăm, Đức Pháp Vương Gyalwang và tăng đoàn Phật giáo sẽ cử hành Pháp hội quán đỉnh cộng đồng (nghi lễ cho phép thực hành pháp tu), cầu nguyện quốc thái dân an, cầu siêu hương linh liệt sĩ, đồng bào tử nạn, chia sẻ Phật pháp tại Hà Nội, Nam Định, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương và TP HCM.
pv1a-3833-1395921833.jpg
Đức Pháp Vương trong chuyến thăm Việt Nam năm 2010. Ảnh: Drukpa VN

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Thiền và sức khỏe

Cho đến nay, các nhà y học chính thống và bảo thủ nhất cũng đã phải công nhận thiền là một phương pháp trị liệu khoa học và hiệu quả trên một số bệnh lý, cũng như cải thiện cả hành vi và lối sống, đem lại những hiệu quả tích cực cho sức khỏe của cá nhân và cộngg đồng.
Sức khỏe đựơc định nghĩa  “ là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being, bien-être) về thể chất, tâm thần và xã hội, chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật “ (WHO, Tổ chức sức khỏe thế giới, 1946) . Một định nghĩa như thế cho thấy cái gọi là “sức khỏe” của một con người không thể chỉ khu trú vào chuyện có hay không có bệnh, tật; cũng như không thể đánh giá sức khỏe của một cộng đồng mà chỉ dựa vào tỷ lệ giường bệnh, tỷ lệ bác sĩ…! Cái khó ở đây là làm cách nào đánh giá được “tình trạng sảng khoái” về cả ba mặt, thể chất, tâm thần và xã hội như định nghĩa đã nêu?
 
Đánh giá sự sảng khoái, sự hài lòng trong cuộc sống -cũng chính là hạnh phúc- là chuyện không đơn giản chút nào! Chính vì thế mà mãi nửa thế kỷ sau, WHO mới đưa ra đựơc một bảng “Đánh giá chất lượng cuộc sống” (Quality of Life Assessement) để cụ thể hóa định nghĩa sức khỏe đã nêu trên.
 
WHO định nghĩa Chất Lượng Cuốc Sống (CLCS) là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống, liên quan đến  các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ.   Điều dễ thấy ở đây là cách đo đạc CLCS  đặt  trọng tâm lên cảm nhận cá nhân của từng người, cho thấy có cái nhìn khác xưa đối với bệnh tật và sức khỏe lâu nay chủ yếu dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy móc xét nghiệm!
 
Trên thực tế, người thầy thuốc chỉ có thể chữa đựơc cái đau mà không chữa đựơc cái khổ, chỉ có thể chữa đựơc cái bệnh mà không chữa được cái hoạn. Do vậy mà dù khoa học y học ngày càng phát triển với những thành tựu đáng kinh ngạc nhưng cũng chỉ là manh mún và thiếu sót, tình trạng tâm thần, tự tử, bạo lực, bất an và các bệnh do hành vi lối sống gây ra như tim mạch, tiểu đường, béo phì…  cứ ngày càng phát triển! Thiền, phải chăng là một lối thoát?
 
Cho đến nay, các nhà y học chính thống và bảo thủ nhất cũng đã phải công nhận thiền là một phương pháp trị liệu khoa học và hiệu quả trên một số bệnh lý, cũng như cải thiện cả hành vi và lối sống, đem lại những hiệu quả tích cực cho sức khỏe của cá nhân và cộngg đồng. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về lâm sàng và về sinh lý học trong thiền nhằm soi sáng nhiều điều trước đây chỉ đựơc biết qua kinh nghiệm. Nhưng thực ra thiền không dừng ở đó. Thiền Phật giáo lại còn có những sắc thái riêng biệt, đáng đựơc nghiên cứu và thể nghiệm.
 
Khi Phật phát hiện ra con đường dẫn đến an vui, hạnh phúc, chính Ngài cũng ngại ngùng không muốn tiết lộ, không muốn bày tỏ, vì con đường đó lạ lùng quá, ngược đời quá, khó có ai tin, có khi còn gây phản ứng ngược. Mãi sau Ngài mới chịu nói ra, và dĩ nhiên rất đắn đo, nói từng phần, với mỗi người một cách khác nhau, tùy đối tượng. Bây giờ các thiền sư chứng ngộ cũng chỉ chọn một vài học trò có căn cơ để truyền đạt, vì truyền không dễ, nhiều điều “nói không được”. Học trò phải quan sát trực tiếp ở thầy và phải thực hành miên mật. Có những học trò uyên thâm mà không đi tới đâu, loay hoay không thoát; có học trò giã gạo, nấu cơm, không biết chữ mà đại ngộ. . Cho nên tin không dễ! Phật đã chẳng luôn nhắc nhở  đừng vội tin, phải thực hành, phải thể nghiệm, phải trực tiếp lấy thân tâm mình để mà quan sát chiêm nghiệm cho thật thấu đáo đó ư? Phật đã chẳng luôn nhắc nhở phải tinh cần, tinh tấn, miên mật, không được lơ là, chểnh mảng việc thực hành đó ư?
 
Trong đời sống thường ngày, những người bình thường như chúng ta cũng có thể có những phút “ngộ”: đời là vô thường,  là bóng câu qua cửa sổ, là bọt bèo, là giấc mộng, Nhưng ta chỉ “ngộ” một chút rồi quên, rồi “trôi lăn” theo những tham sân si, những quấn quít chằng chịt không sao thoát nổi! Ngay những triết gia quay quắt tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời, sự hiện hữu của kiếp người cũng vẫn loay hoay với bao triết thuyết rồi đâu vào đó. Hẳn phải có một con đường khác. Phật khẳng định có con đường khác đó: “Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí…”. Đó chính là con đường hạnh phúc mà Phật đã  trải nghiệm với nụ cười tự tại trên môi, con đường nhất quán, xuyên suốt 45 năm tận tụy sẻ chia cho mọi người từ ngày Thành Đạo. Đó là con đường thực nghiệm, không lý thuyết suông, không hý luận, được kiểm chứng và có tính phổ quát. Những lời dạy cuối cùng của Phật cùng các đệ tử cũng đã không quên nhắc lại “con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh…” này, bởi sợ rằng ngày sau  người ta lại có thể say mê với những tranh luận, hý luận, mà quên thực hành, thể nghiệm. Con đường đó chính là thiền định, từ đó dẫn đến tụê giác, giải thoát rốt ráo.
 
Thiền đã có từ rất lâu đời. Có lẽ từ ngày xa xưa con người tình cờ phát hiện ra những giây phút rơi vào trạng thái an lạc, sảng khoái, siêu thoát nào đó, một trạng thái  nói không được, mà chỉ có thể cảm nhận, trực nhận bởi chính bản thân mình, rồi tích lũy kinh nghiệm, truyền đạt lại cho nhau bằng nhiều cách. Chính đức Phật, trong khi tìm kiếm con đường giải thoát, tình cờ nhớ lại tuổi ấu thơ của mình đã có lần rơi vào trạng thái sơ thiền này mà nhanh chóng phát hiện ra con đường riêng của mình, con đường không những “diệt trừ khổ ưu” mà còn dẫn đến “thành tựu chánh trí”. Trước đó ngài đã từng rời bỏ những con đường thiền khác. Rõ ràng thiền đã có từ xa xưa nhưng thiền Phật giáo có những sáng tạo riêng.
 
Thế nhưng đọc cả chồng sách luận về thiền, ta càng bị tẩu hỏa nhập ma, bởi có lẽ nó là cái gì đó “bất khả thuyết” và đặc biệt “bất khả đắc” khi ta nóng lòng muốn “chộp” lấy nó! Nó như thách thức những học giả, những trí thức mà lại mỉm cười với anh hàng thịt, người gánh rau, bởi nó đòi hỏi sự tinh tấn thực hành, sự nhẫn nhục thể nghiệm trên chính bản thân mình hơn là ngàn chương khảo luận.
 
Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của   Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm ( Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là thở: Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn… Tóm lại, đó là luôn bắt đầu bằng sự quán sát hơi thở, đặt niệm (nhớ, nghĩ) vào hơi thở. Chỉ có vậy. Mà vô vàn. Mà nói không được! Bản dịch Vịệt nào cũng viết: “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra…” có thể gây nhầm lẫn ở đây chăng? Thở thì ai mà chả biết thở kia chứ! Thế nhưng ở đây không phải là biết thở, biết cách thở mà là nhận thức được (recognize), ý thức rõ (realize), cảm nhận đựơc (perceive) cái sự thở, cái hơi thở đang đi vào và đang đi ra kia kìa, đó mới là điều cốt lõi!
 
Dù gọi là Thiền (Việt) hay Chan (Hoa), Zen ( Nhật)… thì cũng đều có nguồn gốc từ  Dhyana (Sankrist) hay Jhanas (Pali). Theo ngữ nguyên thì Jha là nhìn, là quán sát, là theo dõi và Ana là thở, hơi thở, là khí. Vậy, jhanas hay dhyana chính là quán sát hơi thở, nhận thức hơi thở.  Đơn giản vậy mà thực ra không giản đơn chút nào! Nó như là một chìa khóa căn bản. Phải mở cái cửa này đã rồi các cửa khác mới mở tiếp được.Vấn đề là tại sao và cách nào để chỉ từ một việc có vẻ rất giản đơn là quán sát hơi thở lại có thể dẫn tới tuệ giác, một sự chuyển hóa từ “khí” mà thành “trí”?
 
Câu hỏi đặt ra là tại sao quán sát hơi thở? Quán sát hơi thở  thì có gì hay?  Sao lại không các đối tượng khác để quán sát? Thật ra thì quán sát cái gì cũng được cả, bởi tất cả đều là pháp- nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp- nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy “ngũ uẩn giai không” hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một khái niệm mà là một trạng thái.
 
Để thấy “vô ngã” thì tốt nhất là quán sát từ “ngã”, từ hơi thở chẳng hạn, một đối tượng sẵn có ngay trong bản thân mình.  Tim đập cũng lúc nhanh lúc chậm, nhưng khó theo dõi, hoàn toàn ngòai ý muốn, khó can thiệp. Dạ dày thì làm vịệc âm thầm, khó quan sát. Các bộ phận khác cũng vậy. Trừ hơi thở! Hơi thở dễ quan sát nhất vì nó nằm ngay trước mũi mình, ngay dưới mắt mình! Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Cái hay nữa là quán sát nó thì không ai nhìn thấy, chỉ riêng ta biết với ta thôi! Mỗi phút lại phải thở cả chục lần. Lúc mau lúc chậm, lúc ngắn lúc dài, lúc phì phò lúc êm dịu. Hơi thở  lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín thở”. Lúc lo âu,  ta hổn hển. Lúc sảng khóai ta lâng lâng. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Và nhờ đó mà thấy vô thường. Nhờ đó mà ta quán sát được cái tâm ta. Thở cũng gắn với các hoạt động cơ bắp, khi mệt, ta “bỡ hơi tai”, mệt đứt hơi, mệt hết hơi; khi khỏe, ta thở nhẹ nhàng sảng khoái! Nhờ đó mà ta quán sát được cái thân ta. Rõ ràng chỉ có hơi thở mới là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Không chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Quan sát thở, ta còn có dịp đào sâu xuống…vô thức. Ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Còn sống là còn thở, chết là hết thở, là tắt thở, là ngừng thở. Để ý một chút ta sẽ thấy đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! Khi chào đời em bé khóc thét lên một tiếng thật to để hít mạnh không khí vào phổi để rồi khi lìa đời, cụ già lại thở hắt ra một cái, trả lại cho đời tất cả những gì mình đã vay mượn! Giữa hai lần thở vào thở ra đó là những đợt thở… lăn tăn như những làn sóng nhỏ, mà nối kết các làn sóng nhỏ lăn tăn đó lại với nhau ta có cuộc rong chơi trong cõi “Ta bà”!
 
Mỗi hơi thở vào ra trung bình khoảng 5-10 giây. Mỗi giây, trong cơ thể con người đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu bị hủy diệt và hằng trăm triệu hồng cầu khác được sản sinh. Quán sát hơi thở do đó ta thấy đựơc sự sinh diệt. Thở có thể làm chuyển biến tâm trạng ta, chuyển hóa cảm xúc ta, cả hành vi ta nữa. Đang sôi giận mà kịp nhớ lại, quán sát sự thở của mình thấy nó phập phều kỳ cục, tức cười, bèn quên giận mà hơi thở được điều  hoà trở lại lúc nào không hay: điểm hưng phấn trên vỏ não đã bị dịch chuyển! Nói khác đi, ta có thể dùng quán sát hơi thở để kiểm sóat cảm xúc và hành vi. Quán sát hơi thở cũng lôi kéo ta trở về hiện tại tức khắc- không còn đắm mình trong dĩ vãng hay tương lai. Mà hiện tại thì không có thời gian!
 
Ta biết sự hô hấp thật sự không phải xảy ra ở phổi mà ở trong từng tế bào. Đây cũng có thể gọi là “thâm hô hấp”. Ở các sinh vật đơn bào, khí trao đổi trực tiếp qua da, tức qua màng tế bào, một cách đơn giản. Ở con cá đa bào, sống dưới nước, thì khí trao đổi qua mang. Con người do kết hợp đa bào, phức tạp hơn nhiều nên phải thở qua phổi nhưng vẫn trao đổi khí trực tiếp ở từng tế bào nhờ hệ thống mao mạch.  Do vậy mà khi ta có cách nào đó điều chỉnh được lượng khí ra vào, hiệu ứng sẽ tác động đến từng tế bào riêng lẻ. Hô hấp diễn ra trong từng tế bào, nhằm tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động và tồn tại. Người lao động nặng cần năng lượng gấp ba bốn lần người bình thường, trong đó hoạt động cơ bắp đã chiếm hết gần một nửa.  Riêng não bộ, với trọng lựơng rất nhỏ bé, chỉ khoảng 2% thể trọng mà đã tiêu dùng đến 30% khối lượng oxy đưa vào cơ thể. Giận dữ , lo âu, sợ hãi tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Cho nên những lúc đó ta dễ cảm thấy kiệt sức, rã rời là vậy! Ngủ là một cách giảm tiêu hao năng lượng, nhưng vẫn còn co cơ, vẫn còn chiêm bao. Một đêm ác mộng sẽ thấy bải hoải toàn thân khi thức giấc!.Thiền giúp tiết giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể, còn hơn cả giấc ngủ. Một khi cơ thể giảm tiêu thụ năng lượng thì các tế bào được nghỉ ngơi, nên toàn thân cảm thấy thấy nhẹ nhàng sảng khoái. Trạng thái nhẹ nhàng sảng khóai đó xảy ra trên từng tế bào của cơ thể. Một cảm giác lâng lâng dễ chịu toàn thân của hành giả, phải chăng đó chính là trạng thái hỷ lạc (thiền duyệt?).
 
Phổi ta như một cái máy bơm, “phình xẹp” để đưa khí vào ra là nhờ có áp suất thay đổi. Khi áp suất âm trong phổi và các phế nang thì khí bên ngoài tự động lùa vào, tuôn vào, lấp đầy phổi và các phế nang, cho đến một lúc lượng khí bên trong đầy dần lên thì chuyển sang áp suất dương, phổi sẽ đẩy khí ra. Có một thời điểm áp suất cân bằng nhau, hay nói cách khác, áp suất bằng không, “zéro”, thì khí bên trong cơ thể và bên ngoài vũ trụ chan hòa thành một, không phân biệt. Đó chính là quãng lặng.  Quãng lặng đó ở cuối thì thở ra – trước khi thở vào trở lại – thường kéo dài, thong dong, nhẹ nhàng, yên tịnh, vì không hề tốn năng lượng.  Như cánh chim lượn bay, không phải vỗ cánh, như xe ngon trớn ở số không, không tốn nhiên liệu! Đó chính là giai đoạn “prana”.  Pra có nghĩa là trước và ana là thở vào ( cũng có nghĩa là sau thì thở ra). Prana đã được biết đến từ xa xưa. Yoga của Ấn Độ, khí công của Trung quốc, cũng như y học Đông phương nói chung đã nói đến từ cổ đại. Trong yoga có pranayama, kiểm soát hơi thở. Trong thiền định, không còn phải là vấn đề kiểm soát hơi thở nữa mà hơi thở tự kiểm sóat! Đến một lúc nào đó hành giả không cảm nhận mình thở nữa. An tịnh. Hòa tan. Tan biến. Có thể nói đến một phương pháp, một “kỹ thuật” pranasati ở đây chăng?  Những hành giả giàu kinh nghiệm (thiện xảo) cho biết họ có thể vào định ngay hơi thở đầu tiên có lẽ nhờ rèn tập mà khoảng lặng của họ ngày càng dài ra, mênh mông ra như không còn biên giới, như hòa tan vào hư không, lắng đọng, thanh thoát. Lúc đó họ đã không còn ý niệm về không gian, thời gian, về ta, về người…  Tiến trình hô hấp vẫn diễn ra sâu trong các tế bào (thâm hô hấp), nhưng ở mức thấp nhất, nhẹ nhàng nhất, tiêu thụ năng lượng tối thiểu và do vậy nhu cằu sản xuất năng lượng không còn đòi hỏi cao nữa!
 
Bầu khí quyển chúng ta thở hôm nay so với cách đây 700 triệu năm – tức là khi có những sinh vật đơn bào đầu tiên trên trái đất- thì cũng chẳng khác biệt! Với người anh em đơn bào đó thì ta cũng đang cùng hút chung một bầu khí, cùng bú chung một “núm vú” vũ trụ, cùng với muôn loài khác nữa!   Các sinh vật cùng chia sẻ một cách…bình đẳng, không phân biệt và theo nhu cầu như vậy. Ta hút lấy oxy của không khí, lại tạo ra carbonic; trong khi cây cỏ hút carbonic lại tạo ra oxy. Con thằn lằn, con tắc kè, con ễnh ương… cũng phình ra xẹp vào như ta vậy. Bầu khí quyển vẫn không thay đổi, không thêm bớt. Nhưng chính con người có thể làm hại môi trường sống của mình mà không hay nếu cứ theo đà hủy diệt sự sống của thiên nhiên và muôn loài trên hành tinh xanh này!
 
Những cảm giác bức xúc, căng thẳng thường xuyên trong đời sống hằng ngày gây nguy hại âm thầm nguy hiểm hơn ta tưởng. Cơ thể ta lúc nào cũng căng cứng, trong tư thế “chiến đấu” hoặc “bỏ chạy” ( fight or flight, cũng gọi là stress) nên tiêu hao rất nhiều năng lượng mà không hay! Tình trạng đó kéo dài gây ra đủ thứ bệnh tật mà bác sĩ và các máy móc tân kỳ cũng không tìm ra, đành gắn cho cái tên là “mệt mỏi kinh niên”, “mệt mỏi không rõ nguyên nhân”, “rối lọan chức năng” này nọ rồi dùng thuốc đè nén cảm xúc đó xuống, do vậy mà ta thấy tình trạng “trầm cảm” trong dân số cứ ngày càng gia tăng. Cảm xúc mà bị đè nén mãi, chìm lắng mãi thế nào cũng có lúc bùng lên! Những vụ nổ súng lọan xạ, nổi cơn điên, tự tử… trở nên dễ hiểu ở nhiều xã hội thừa mứa vật chất mà tâm thần không an! Những họat động của “tâm” tiêu hao rất nhiều năng lượng của cơ thể.  Cho nên có được một cái tâm an là điều kiện đầu tiên của hạnh phúc, của sức khỏe. Có được cái tâm an lành thì ta tiết kiệm được năng lượng một cách đáng kể. Nói chung là không mất “hơi sức” đâu cho những chuyện lăng xăng! Tâm  dễ lăng xăng lắm. Đảo điên trăm thứ. Cho nên mới gọi “tâm viên ý mã”. Thời đại ngày nay, tâm ý không chỉ là ngựa là khỉ mà còn là… ngồn ngộn những thông tin, kích động từ mọi phía, càng làm cho tâm náo lọan. Xã hội  hiện đại đời sống vật chất phủ phê mà bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tình trạng tuyệt vọng, tự tử ngày càng  gia  tăng là vậy!
 
Âu Mỹ  mới đi sâu nghiên cứu về thiền chừng khoảng hơn nửa thế kỷ nay ( Vakil, 1950), nhưng chỉ 30 năm gần đây thì thiền mới được coi là một phương pháp trị liệu khoa học trong y học (Craven. 1980; Haarmon & Myers 1999).Cũng đã có những nghiên cứu so sánh các kỹ thuật thiền (Woolfolk, 1975). Những nghiên cứu về sinh lý học giúp thiền ngày càng đựơc hiểu rõ hơn… Hành giả có thể giảm đến 40% nhu cầu oxy và giảm 50% nhịp thở trong lúc thiền. Lúc đầu các nhà khoa học nghĩ rằng thiền cũng giống như giấc ngủ hay nghỉ ngơi tích cực, nhưng qua các nghiên cứu cho thấy thiền khác hẳn, thực sự là một trạng thái tỉnh giác, ở mức tiêu thụ năng lượng thấp nhất tùy trình độ hành giả! Ở những hành giả thực hành thiền dài khỏang 30-40 phút thấy mức lactate trong động mạch giảm (Wilson, 1987), phenylalanine tăng 20% (Jevning, 1977), họat động hệ giao cảm giảm trên bề mặt da và nhịp tim cũng giảm đáng kể( Cuthbert, 1981). Về nội tiết, thấy giảm cortisol (hormone chủ yếu của stress) và ACTH (Bevan, 1980; Kamei, 2000); TSH, GH cũng giảm, trong khi đó arginine vasopressin, đựơc coi là có vai trò trong học tập và trí nhớ lại gia tăng đáng kể (O’Haslloran, 1985). Hiện ngày càng có nhiều nghiên cứu về beta-endorphin, corticotropin, ( Harte, 1995) melatonin (Massion, 1995), DHEA (Glaser, 1992) hứa hẹn giải thích cơ chế tác dụng của thiền trên nhiều mặt về y sinh học.…  Hoat động điện não đồ EEG cho thấy thiền có sự khác biệt với nghỉ và ngủ ( Herbert, 1977). Nhờ những tiến bộ về kỹ thuật thăm dò chức năng não bộ như PET (positron emission tomography) và nhất là fMRI (functional magnetic resonance imaging) đo lượng tưới máu não, cho thấy ở thiền giả một số vùng não đựơc tưới nhiều hơn vùng khác, chứng tỏ thiền không phải là giấc ngủ, trái lại là một trạng thái an tịnh tỉnh giác (state of restful alertness). Kỹ thuật fMRI có khả năng chụp cắt lớp từng giây, nên khá chính xác (Lazer, et al., 2000) cho thấy hoat động tưới máu não gia tăng ở vùng liên quan đến sự chú ý, vùng kiểm soát tự động, vùng  tỉnh thức. Nhưng nói chung, tưới máu não trong thời gian hành thiền rõ ràng là giảm một cách đáng kể, chỉ tập trung vào một số vùng nhất định như đã nêu trên. Điều này cho thấy thiền giả không tiêu hao nhiều năng lựơng cho các họat động của vỏ não. Các nghiên cứu về sinh lý học trong thiền vẫn còn đang tiếp diễn. Thế nhưng đã chứng minh được thiền có khả năng làm giảm stress, cao huyết áp, tạo sự sảng khoái, yếu tố của sức khỏe, của chất lượng cuộc sống.
 
Đại học Y khoa  Harvard ước lượng có khoảng 60-90% bệnh nhân đến bác sĩ là do stress. Stress liên quan đến rất nhiều bệnh lý như nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, tiểu đường, suyễn, đau nhức kinh niên, mất ngủ, dị ứng, nhức đầu, đau thắt lưng, một số bệnh ngoài da, ung thư, tai nạn thương tích,  tự tử, trầm cảm, giảm miễn dịch… Stress gây tăng cholesterol cao hơn thức ăn (Rosenman, 1993). Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp, người làm việc những ở khu vực dễ bị sa thải thì chết vi bịnh tim mạch, tai biến mạch máu não cao gấp đôi các khu vực khác ( Chandola, 2006). Stress là nguyên nhân của 50% các bệnh nhân mất ngủ, dẫn tới những vấn đề sức khỏe tâm thần. Stress cũng gây 19% vắng mặt nơi làm việc, 40% bỏ việc, 60% tai nạn xảy ra nơi làm việc. Theo một thống kê của cơ quan bảo hiểm y tế, thiền  giúp giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân  và giảm số lần đi khám bệnh ( Orme-Johnson, 1987).
 
Nghiên cứu đối chứng về cơn đau kinh niên, lo âu, trầm cảm, thiền làm giảm 50% các triệu chứng tâm thần nói chung và giảm 70% triệu chứng lo âu (Roth, 1997).
 
Hành giả thực hành thiền hơn 5 năm có tuổi già sinh lý trẻ hơn 12 năm so với người cùng tuổi, dựa trên 3 yếu tố là huyết áp, khả năng điều tiết nhìn gần của thị giác và khả năng phân biệt của thính giác.
 
Một nghiên cứu  trên học sinh cấp 2 có thực tập thiền, cho thấy kết quả học tập tốt hơn, có khả năng tập trung, có thói quen làm việc, cải thiện hành vi (xung đột, hung hãn), tăng lòng tự tín, khả năng hợp tác và quan hệ với người khác (Harrison, 2004).
 
Thiền cũng giúp làm giảm cân, giảm béo phì, nghiện thuốc lá, rượu và các chất ma túy nói chung (Alexander, 1994). Đặc biệt, một nghiên cứu đối chứng ở 44 bệnh viện cho thấy thiền đã giúp làm giảm sai sót chuyên môn y khoa đến 50%, đồng thời cũng làm giảm 70% các vụ khiếu kiện của bệnh nhân đối với bệnh viện ( Jones, 1988). Ở các công nhân kỹ thuật có thực tập thiền trong 8 tuần cho thấy họ làm việc phấn khởi hơn, thích thú hơn, nhiệt tâm hơn, giảm thiểu các bệnh cảm cúm thường gặp trong khi nhóm chứng không có sự thay đổi.  Tóm lại, hiệu quả của thiền đã được chứng minh trong nhiều lãnh vực đời sống..
 
Khi nói đến thiền, ta thường nghĩ ngay đến ngồi: ngồi thiền. Rồi nào kiết già, nào bán già, hết sức phức tạp và bí hiểm như chỉ dành riêng cho một giới nào đó.   Thiền thực ra không nhất thiết phải ngồi, không nhất thiết phải  kiết già bán già. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được cả. Người Nhật, người Tây Tạng đều có cách “ngồi” thiền riêng của mình, người Tây phương  còn khác hơn nữa, miễn sao có một tư thế thoải mái, dễ chịu, buông xả toàn thân là được.  Thế nhưng cách ngồi tréo chân (kiết già, bán già) lại có lợi thế hơn cả. Tại sao? Tại vì khi ta đứng, ta đi, các bắp cơ phía trước của hai chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình, trong khi các bắp cơ phía sau thì duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân ta đã làm cho các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp “đối chứng trị liệu”. Khi nào đi bộ lâu, mỏi chân, ta ngồi xuống, xếp bằng và hít thở một lúc sẽ thấy hai chân bớt mỏi nhanh hơn. Cơ nào đã duỗi lâu thì được co lại, cơ nào đã co lâu thì được duỗi ra! Thiền hay yoga do vậy khai thác kỹ thuật này để trị liệu rất có hiệu quả sự mỏi mệt, không kể ngồi theo cách này cũng giúp làm giảm sự tiêu thụ oxy!
 
Giữ lưng thẳng đứng cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong thiền.  Ta dễ có khuynh hướng chìu theo độ cong tự nhiên của cột sống dưới sức nặng của thân thể do trọng lực- và nhất là tuổi tác- do đó dễ dẫn đến cong vẹo cột sống hoặc đau cột sống cổ, đau thắt lưng. Ở tuổi trung niên nhiều người đã bị những cơn đau dữ dội đến phát khóc. Đó là những cơn đau cấp tính, nếu nghỉ ngơi và uống thuốc đùng cách chừng mươi ngày, nửa tháng sẽ khỏi, nhưng không khỏi hẳn, dễ tái phát do tư thế chưa được điều chỉnh. Nhưng nguồn gốc sâu xa hơn lại là do cách sống căng thẳng, chịu đựng, dồn nén lâu ngày. Cơn đau là tiếng chuông báo động để ta “tỉnh ngộ”!. Một người cúi gầm suốt ngày trước máy vi tính hay TV để chơi games online thì sớm muộn cũng bị những hội chứng về  cột sống. Một người quen đi chùa lạy Phật mà với tư thế không đúng thì lâu ngày cũng bị đau cột sống như vậy! Nhất là khi đã có tuổi, cột sống có khuynh hướng cứng lại, mất đàn hồi, các lớp sụn độn giữa hai đốt sống dễ bị bẹp, có khi “xì” ra một bên, chèn ép gây đau, nhiều khi phải phẫu thuật để chữa. Giữ lưng thẳng đứng trong lúc ngồi thiền là điều cần thiết. Kết hợp với tập thể dụng bụng, có nghĩa là tập cho thắt lưng được dẻo dai, cũng sẽ làm chậm tiến trình lão hóa.
 
Trong thiền, một yếu tố rất quyết định nữa là sự thả lỏng toàn thân,“buông xả” toàn thân, mà có người ví như thả trôi theo dòng nước. Thả lỏng toàn thân là cách làm cho toàn thân như rủ xuống, xẹp xuống, bình bồng, không còn căng cứng nữa! Có thể nói cơ thể ta như chỉ gồm có hai phần: “thân xác” và “thân hơi”. Thả lòng là “xì” cho xẹp cái thân hơi đó- mà tiếng Việt ta có một từ rất hay là xả hơi! Khi quá mệt, quá căng thẳng thì nghỉ xả hơi!  Khi đó, không một bộ phận nào của cơ thể còn phải căng nữa, phải gồng nữa, kể cả vỏ não. Tiêu hao năng lượng cho trương lực cơ ( tonus musculaire) và hoạt động của vỏ não sẽ giảm thấp nhất có thể được. Y học chứng minh tiêu hao năng lượng trong thiền rất thấp, dưới mức chuyển hóa cơ bản, thấp hơn cả khi ngủ, nhờ vậy mà năng lượng được tích lũy tốt hơn.
 
Cơ thể ta có hơn mười ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một cái túi, một lọai “sinh vật” háo ăn, háo làm, háo tiêu thụ oxy- kết hợp với thức ăn qua những phản ứng gọi là oxyt hóa- để tạo ra năng lượng. Nhưng oxyt hóa càng mạnh thì càng tạo thêm các gốc tự do và các chất… bã, làm cho cơ thể mau mệt mỏi, già nua!. Giống như một thanh sắt để ngoài nắng gió một thời gian sẽ bị oxyt hóa thành rỉ sét. Khi cơ thể có cách nào làm giảm tiêu thụ năng lượng không cần thiết thì các tế bào cũng sẽ được nghỉ ngơi.
 
Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy bớt cần thiết  phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn như glucid, lipid, protid… vốn là nguồn tạo năng lượng! Ăn ít đi mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng khoái. Các nghiên cứu gần đây cho thấy  các sinh vật bị cho nhịn đói vừa phải thì sẽ sống lâu hơn và trẻ hơn.  Do vậy mà các thiền giả không có nhiều nhu cầu  về các chất dinh dưỡng được cung cấp bởi thức ăn! Ta thấy giới, định và tuệ gắn bó chặt chẽ với nhau như một tam giác cân, tác động hai chiều là vậy!
 
Danh y Tuệ Tĩnh, thế kỷ XIV ở nước ta đã đúc kết một lời khuyên: “Bế tinh- Dưỡng khí- Tồn thần / Thanh tâm- Quả dục- Thủ chân- Luyện hình” . Thử nhìn lại đời sống hiện nay ta thấy: tinh không bế, khí không dưỡng, thần không tồn, tâm náo lọan… bảo sao các hiện tượng tâm thần, tự tử, béo phì, tiểu đường, huyết áp… kể cả chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai… chẳng ngày một gia tăng?
 
Đời sống tiết độ, tri túc, kham nhẫn, chánh niệm, tỉnh giác.. phải chăng có thể góp phần giải quyết những vấn đề sức khỏe thời đại và bảo vệ môi trường sống của chúng ta hôm nay?
 
Đừng tìm đâu cho mất công. Hãy quay về nương tựa chính mình. Quả đúng như vậy. Bởi nói cho cùng, ai có thể “thở” giùm ai? Ai có thể “thiền” giùm ai?

 
Theo BS Đỗ Hồng Ngọc

Kinh nghiệm luyện thiền

Trong một ý niệm giải thích về Thiền, Thiền Sư Vô Ngôn Thông đã phát biểu: Thiền hay Thiền Sư không phải là một cái gì có thể định nghĩa được, như cây thoan lư kia, nhìn thẳng vào đó thì thấy ngay, khỏi cần qua trung gian ngôn ngữ và khái niệm. Thiền là sự tỉnh thức, sự sinh hoạt trong thế giới thực tại, chỉ có thể thể nghiệm mà không thể đàm luận và giảng giải. (VNPG Sử Luận).
Chúng ta ngồi thiền để đạt được điều gì? Đối với tôi ngồi thiền mỗi ngày là một thói quen không thể thiếu. Sau mỗi thời thiền tôi cảm thấy toàn thân nhẹ nhàng, tinh thần rỗng rang, tỉnh táo, đặc biệt là sau thời thiền buổi trưa, không cần ngủ nhưng tôi vẫn có thể duy trì đuợc trạng thái tươi mới như lúc sáng.
Sau nhiều lần thử nghiệm các phương pháp như theo dõi hơi thở, sự phồng xẹp của bụng khi hít vào thở ra, tôi thấy rằng việc kết hợp cân bằng giữa định và quán vào một điểm trên chóp mũi, vừa tưởng tượng điểm đó màu trắng vừa giữ cố định nó là phương pháp phù hợp nhất với mình, đem lại cho tôi những trải nghiệm trên.
Mỗi khi bắt đầu thời thiền tôi đều thực hành như vậy. Mỗi khi có niệm khởi lên tôi liền buông bỏ ngay để tiếp tục pháp thiền của mình. Việc buông bỏ này đôi khi diễn ra dễ dàng như trở bàn tay do niệm khởi lên ít liên quan đến bản thân như hình ảnh, âm thanh của một bộ phim, hoặc ý nghĩ về một câu chuyện nào đó thú vị, hấp dẫn của người khác… Tuy nhiên, khi các niệm có liên quan trực tiếp đến bản thân như những lời nhận xét của người khác đối với tôi thì khi ấy việc buông bỏ gặp ít nhiều khó khăn.
Tôi bị chúng lôi kéo khỏi pháp định quán song tu của mình, trở thành người tự đặt câu hỏi và đưa ra những lý lẽ biện luận cho vấn đề nhằm đem lại cảm giác dễ chịu cho mình. Tôi cảm thấy càng lúc càng bị chúng lấn áp, làm cho thời thiền trở nên nặng nề. Những niệm này đôi khi là lời giải đáp cho những khúc mắc của tôi trong đời sống thường ngày hoặc có khi là ý nghĩ sân đối với đối tượng đã gây ra sự bất lợi, đem đến những cảm xúc tiêu cực trong tôi. Khi ấy tôi bắt đầu áp dụng cách quán tưởng rằng tất cả các niệm dù tích cực hay tiêu cực đều chỉ làm tôi tiêu hao năng lượng, trong khi tôi muốn dành càng nhiều năng lượng càng tốt vào pháp thiền của mình. Tất cả chúng chỉ là bề nổi, không thực sự là trạng thái sâu thẳm, bất diệt, không thêm không bớt mà những ai tu thiền đều muốn hướng đến.
Ngay khi nhận thức như vậy tâm tôi bỗng trở nên nhẹ nhàng hơn, có cảm giác như vừa trút được một gánh nặng xuống đất, tôi lại có thể dễ dàng quay về với pháp thiền của mình đó là hướng vào nhận thức và duy trì sự hiện diện của điểm trắng trên chóp mũi. Tuy nhiên, các niệm vẫn còn quanh quẩn một cách vi tế đâu đó trong tâm thức, tôi cứ để việc đó như thế diễn ra, không còn thấy cần thiết phải chú ý đến chúng nữa. Khi ấy việc hành thiền tiếp diễn trong một không gian tâm thức tương đối thanh tịnh.
Đôi khi việc dập tắt các niệm lại được sự tiếp duyên từ bên ngoài. Có những thời thiền khi đang bị các tạp niệm lấn áp thì bỗng dưng một tiếng động lớn bên ngoài vang lên làm chúng dừng lại một cách nhanh chóng. Điều gì đã diễn ra? Tôi quán sát thấy rằng chính cái khoảnh khắc ngay lúc nghe thấy tiếng động, chỉ nghe chứ chưa khởi tâm phân biệt tiếng động của vật gì phát ra hay ai gây ra, khoảnh khắc này tồn tại rất ngắn ngũi như đức Phật từng so sánh tạm thời với một cái khẩy móng tay, hay chính xác phải gọi là một sát na (một đơn vị thời gian rất nhỏ) là bản tâm thanh tịnh bất biến, không thêm không bớt của mình, khi đó tôi không vương vấn với niệm cũ cũng không ham thích chạy theo tiếng động. Tâm thanh tịnh này trong thiền Tông gọi là “Bản lai diện mục” hay bộ mặt xưa nay của ta, là nơi phát xuất và trở về của các trạng thái tâm tham, sân, si. Tâm này chính là mặt nước phẳng lặng trong suốt, còn các tâm kia như những gợn sóng, sóng to hay sóng lớn đều có chung bản tánh của nước. Nhận thức như vậy, tôi ngày càng có thể bắt gặp được nhiều hơn cái khoảnh khắc đó, hòa nhập vào nó, khi đó không còn thấy tồn tại người đang quán sát và đối tượng quán sát nữa.
Nhưng sự đau đớn không dễ gì từ bỏ tôi, nó lại tăng lên một cách khủng khiếp hơn, trong khi các tạp niệm vẫn đang vây quanh và có chiều hướng tăng dần cùng với cơn đau làm đầu óc tôi bắt đầu nặng nề, mệt mỏi, thân tâm bị dao động. Như dây đàn quá căng hoặc quá chùng thì không thể phát ra âm thanh hay, tôi bắt đầu chuyển chánh niệm trở lại với điểm trắng tại chóp mũi, quán tưởng các tế bào thần kinh là vô số các điểm trắng ấy. Lúc đó tâm tôi dần trở nên nhẹ nhàng hơn, đầu óc không còn thấy nặng nề, căng kéo nữa. Tiếp đến tôi quán tưởng điểm đang diễn ra cơn đau mạnh nhất di chuyển về hợp với điểm trắng. Bằng cách ấy, thân (chóp mũi, trạng thái nhận biết “có thân thể đây”, theo Kinh Tứ Niệm Xứ), thọ (cơn đau nơi thân và cảm giác nặng nề, căng thẳng, bứt rức, bực bội ở tâm), tâm (trạng thái của tham, sân, si phát sinh khi muốn không còn phải chịu đau đớn, muốn được thoải mái trong một tư thế khác nhưng cũng vừa muốn duy trì tư thế cũ) và pháp (những gì còn rơi rớt lại trong tâm bao gồm các vọng niệm (hình ảnh, âm thanh, mùi vị, xúc chạm…), các trạng thái tham, sân, si; các lạc thọ, khổ thọ…) như hòa vào nhau. Cảm thọ đau, các niệm cấu uế, các dao động, mệt mỏi của thân tâm dần dần tan biến, giảm bớt, một cảm giác an lạc, nhẹ nhàng lại đến với tôi. Sau một lúc cơn đau lại nổi bật lên trên các yếu tố khác, khi ấy tôi cố gắng giữ bình tĩnh, chú tâm, chánh niệm một cách liên tục vào nó, giữ khoảng cách không quá gần cũng không quá xa thì không lâu sau nó bỗng chấm dứt một cách đột ngột, toàn thể thân tâm tôi trở nên nhẹ nhàng, an lạc và yên bình.
Trong suốt thời thiền, khoảng 45 phút đầu tôi chủ yếu thực hành pháp định quán song tu, cố gắng duy trì và tưởng tượng ra một điểm trắng trên chóp mũi mà không quan tâm đến các tạp niệm. Sau đó, cơn đau mới thực sự bắt đầu tăng dần, mặc dù trong 45 phút đầu có đôi lúc cơn đau xuất hiện nhưng nó nhanh chóng tan biến, tôi cũng không mấy để tâm quán sát nó, nhưng vào lúc này tôi bắt đầu áp dụng lần lượt các cách đối trị cơn đau như trên. Một là giữ chánh niệm liên tục vào cơn đau để nhận thấy sự sinh diệt liên tục của nó để rồi đến một lúc nào đó có thể tiến tới trực nhận khoảnh khắc nó chấm dứt (về mặt sinh học thì có cái gọi là cơn đau, cái này thì mãi mãi tồn tại cho đến khi chết còn về mặt tâm thức nói chấm dứt cơn đau là nói không còn có cái tôi chịu đựng đau đớn vậy). Đây là cách tốt nhất để phát triển năng lực thiền định đưa đến các tầng thiền sâu hơn. Hai là tạm thời chuyển chánh niệm về cơn đau và các tạp niệm đến hợp với điểm trắng để giảm bớt căng thẳng, sau đó quay trở lại tiếp tục thực hành cách thứ nhất. Và cuối cùng, khi cảm thấy không còn có thể đối diện với cơn đau được nữa, tôi liền hạ thấp niềm kiêu hãnh của mình và dần dần xuất thiền, thay đổi tư thế, nghỉ ngơi khoảng 5 đến 10 phút rồi sau đó tiếp tục thời thiền thứ hai với tư thế bán hoa sen ít chịu nhiều áp lực hơn tư thế hoa sen.
Bằng cách ứng dụng các cách thức quán tưởng trên, tôi có thể ngày càng kéo dài thời thiền của mình, tăng dần từ lúc ban đầu thực tập chỉ được 30 phút lên đến hơn một tiếng như hiện nay.
Các bạn thì sao, hãy chia sẻ kinh nghiệm thực tập thiền của mình để chúng ta đạt được nhiều an lạc trong đời sống hàng ngày.
Nguồn Ảnh: SmashingMagazine